Báo chí

Vinalines đòi hủy phán quyết của trọng tài: Tự lựa chọn, không tuân thủ

Vui lòng bấm vào đây để xem bài báo gốc

(DĐDN) – TCty Hàng hải VN (Vinalines) bị thua kiện hơn 3 triệu USD với một nhà thầu Hàn Quốc do Trung tâm trọng tài của VN xét xử là một lời cảnh báo cho các DN làm ăn thiếu cẩn trọng. Điều này cũng khẳng định với giới kinh doanh quốc tế rằng, tinh thần thượng tôn pháp luật vẫn luôn được coi trọng tại VN. Tuy nhiên…

Nhiều thiết bị công trình đang phơi nắng tại cảng Vân Phong

Bị Hội đồng trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) xử thua và bắt bồi thường DN nước ngoài, Vinalines đã đệ đơn ra TAND TP Hà Nội đòi hủy quyết định trọng tài. Đồng thời, Bộ GTVT – cơ quan chủ quản của Vinalines cũng có văn bản gửi TAND TP Hà Nội đề nghị cơ quan này sớm xem xét đơn yêu cầu của Vinalines về việc hủy phán quyết của VIAC.

Không còn yếu tố “sân nhà”

Đầu năm 2014, Hội đồng trọng tài thuộc VIAC đã ra phán quyết buộc Vinalines phải bồi thường cho nhà thầu thi công gói thầu 6b1, Dự án Xây dựng cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong là Cty SK Engineering & Construction (SKE&C) của Hàn Quốc 65,4 tỷ đồng. Đây là khoản tiền mà Hội đồng trọng tài (HĐTT) buộc Vinalines phải thanh toán cho lô cọc thép 544 đoạn SPP mà Cty SK E&C mang đến công trường trước khi dự án bị dừng đột ngột để điều chỉnh chủ trương đầu tư vào năm 2012.

Trước đó, để triển khai dự án Cảng Vân Phong, vào tháng 10/2009, Vinalines và liên danh nhà thầu là Cty SK E&C – TCty Xây dựng đường thủy (Vinawaco) đã ký hợp đồng số 03/VP/2009 thi công gói thầu số 6b1. Hợp đồng xây dựng cầu tàu này có giá trị gần 1.000 tỷ đồng và được khởi công vào tháng 10/2009, dự kiến hoàn thành sau 20 tháng thi công.

Đại diện Vinalines cho rằng, HĐTT ra phán quyết mà không căn cứ vào các quy định Hợp đồng về nghiệm thu và thanh toán. Cụ thể, Cty SK E&C không hề có giá trị hoàn thành và kê khai thuế hàng tháng theo Điều 14.3 của Hợp đồng; không có hồ sơ thanh toán theo Điều 14.17; không có hồ sơ sản xuất lô cọc ống thép; không có biểu xác định giá lô cọc theo Điều 13.8.2/ĐKR Hợp đồng có xác nhận của chủ đầu tư. Vinalines còn tố, Cty SK E&C sử dụng một chứng cứ giả mạo là bản photocopy một thư trao đổi công việc giữa tư vấn giám sát và Giám đốc Ban Quản lý dự án để làm “Chứng chỉ thanh toán tạm” cung cấp cho HĐTT xét xử. HĐTT không hề xác minh tài liệu quan trọng này với tư vấn giám sát và Giám đốc Ban Quản lý dự án khi xét xử và ra phán quyết.

Bên cạnh đó, Vinalines cũng cho rằng, chính Cty SK E&C mới là bên vi phạm hợp đồng, khi nhà thầu này đã không thực hiện trách nhiệm thầu chính theo các quy định trong hợp đồng đã ký cũng như theo pháp luật Việt Nam về thực hiện dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước. Lô cọc ống thép nhà thầu này đưa đến công trường là sai quy cách, không có hồ sơ sản xuất, không tuân thủ hợp đồng về số lượng và giá cả. Bên cạnh đó, Cty SK E&C không thực hiện quy định nghiệm thu khối lượng, khai thuế hàng tháng và ký đề nghị thanh toán.

HĐTT cho rằng, với cơ sở hồ sơ do Cty SK E&C đệ trình, Vinalines đã không thực hiện đúng các điều khoản hợp đồng khi từ chối thanh toán khối lượng cọc thép được nhập về Việt Nam. Đây là hạng mục đã có xác nhận của tư vấn giám sát. Theo phán quyết của HĐTT, ngay cả khi nhà thầu chưa hoàn thiện bộ hồ sơ thanh toán, nhưng nếu tư vấn đã phát hành Chứng chỉ thanh toán tạm, thì chủ đầu tư buộc phải thanh toán. Thậm chí, trong trường hợp tư vấn không kiểm tra sự chính xác và tính phù hợp của Hồ sơ thanh toán mà vẫn thông qua và trình lên Vinalines, thì chủ đầu tư vẫn phải phê duyệt và thanh toán, rồi sẽ đi kiện tư vấn để đòi lại.

Thượng tôn pháp luật

Vinalines cho rằng, HĐTT vẫn ra phán quyết buộc họ phải thanh toán (và trả cả tiền lãi phát sinh chậm thanh toán) là “vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam”. Không phục phán quyết của trọng tài, Vinalines đã đâm đơn ra Tòa án TP Hà Nội yêu cầu tòa xem xét hủy phán quyết nói trên. Đơn yêu cầu của Vinalines đã được toà thông báo thụ lý vào ngày7/3/2014, đến nay đang chờ xét xử.

Theo Luật Trọng tài thương mại, các bên tham gia tranh tụng bằng hình thức trọng tài tự lựa chọn trọng tài để thành lập HĐTT. Như vậy, HĐTT giải quyết vụ tranh chấp trên đương nhiên được cả hai bên thống nhất lựa chọn. Khi hai bên đã lựa chọn hội đồng trọng tài thì phải tuân theo phán quyết của hội đồng trọng tài này. Tòa án chỉ có thể tuyên hủy phán quyết trọng tài trong các trường hợp vi phạm về mặt tố tụng mà không xem xét về mặt nội dung.

Hội đồng trọng tài xét xử chỉ có thể giữ được uy tín bởi sự công minh của mình khi yếu tố “sân khách –  sân nhà” không bị chi phối.

Tuy nhiên, trong thời gian chờ toà án xem xét huỷ phán quyết có trị giá trên 3 triệu USD, Vinalines phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do Cty SK E&C đã liên tiếp yêu cầu nhà chức trách Hàn Quốc bắt giữ tàu biển của các Cty con thuộc Vinalines để làm tài sản bảo đảm thi hành phán quyết. Đại diện của Vinalines cho biết, để giải cứu hai con tàu bị bắt giữ trong thời gian nói trên, TCty đã phải bỏ ra 3 triệu USD nhằm thực hiện các thủ tục mở tài khoản phong toả để giải phóng tàu.

Nhìn lại vụ việc có thể thấy, các cơ quan thực thi pháp luật của các nước có thể có những cơ chế ưu ái với DN của họ. Tuy nhiên, việc HĐTT của Việt Nam đã ra phán quyết phần thua kiện thuộc về DN VN khẳng định rằng, HĐTT không hề thiên vị mà đặt tính thượng tôn của pháp luật lên trên hết. Một số luật sư nhận xét, HĐTT xét xử chỉ có thể giữ được uy tín bởi sự công minh của mình khi yếu tố “sân khách – sân nhà” không bị chi phối.

Thực tế, khi đầy đủ chứng lí thì đi tới đâu DN vẫn có thể thắng kiện. Vụ việc Tòa án Thương mại Bắc Kinh (Trung Quốc) đã chính thức tuyên thu hồi thương hiệu “Đức Thành” của ông Xie Hong Yi trả về cho Cty CP Vinamit (Việt Nam) vừa qua đã minh chứng. Đây là thành quả của hành trình kiện tụng qua 3 phiên tòa, kéo dài ròng rã 4 năm trời của Vinamit. Ngoài ra có thể kể đến vụ việc, TCty Lắp máy Việt Nam – LILAMA thắng kiện Tập đoàn Power Machinery (Liên bang Nga) vào giữa năm 2012, buộc tập đoàn này và bên liên quan là Ngân hàng Ngoại thương Nga phải thanh toán 4,2 triệu USD…

Đã nói đến pháp luật, nói đến xét xử thì yếu tố quan trọng hàng đầu là phải công minh, độc lập. Mỗi hội đồng, mỗi cơ quan xét xử chỉ có thể lấy được niềm tin từ những phán quyết đặt thượng tôn pháp luật lên trên tất cả.

Tòa án chỉ xem xét thủ tục tố tụng

LS Nguyễn Mạnh Dũng– Thành viên Viện Trọng tài Luân Đôn, Anh Quốc (CIArb):

Theo Luật TTTM, chính các bên tranh chấp chọn trọng tài viên để thành lập nên HĐTT. Thông thường, HĐTT gồm 3 trọng tài viên. Nguyên đơn trước hết sẽ lựa chọn một trọng tài viên đầu tiên. Sau đó bị đơn có quyền lựa chọn một trọng tài viên thứ hai. Nếu các bên không lựa chọn thì đều có quyền yêu cầu VIAC chỉ định trọng tài viên thay cho mình. Các trọng tài viên này sẽ bầu một trọng tài viên thứ ba làm Chủ tịch HĐTT. Trong trường hợp không bầu được, Chủ tịch VIAC sẽ chỉ định Chủ tịch HĐTT. Các trọng tài viên không nhất thiêt phải là trọng tài viên của VIAC. Trọng tài viên phải đảm bảo nguyên tắc độc lập, khách quan khi giải quyết tranh chấp và không ai có thể can thiệp vào việc giải quyết tranh chấp của HĐTT. Để nói về hiệu lực phán quyết trọng tài, khác với bản án của tòa án phán quyết trọng tài là chung thẩm, các bên tranh chấp không có quyền kháng cáo và phán quyết trọng tài do đó có hiệu lực thi hành ngay trừ trường hợp có đơn xin hủy phán quyết trọng tài theo quy định tại điều 69 của Luật TTTM. Tuy nhiên Tòa án sẽ không xét xử lại nội dung tranh chấp mà HĐTT đã giải quyết và ra phán quyết. Tòa án chỉ xem xét hủy phán quyết trọng tài nếu nhận thấy có vi phạm nghiêm trọng tố tụng trọng tài thuộc một trong các trường hợp cụ thể quy định tại khoản 2 Điều 68, Luật TTTM 2010. Ngoài ra, khác với bản án của tòa án, phán quyết trọng tài không chỉ có hiệu lực pháp lý tại quốc gia nơi phán quyết được ban hành mà còn có thể được công nhận và cho thi hành bởi 149 quốc gia thành viên còn lại của Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài.Hệ lụy của việc phán quyết trọng tài bị hủy một cách thiếu căn cứ sẽ khiến các DN VN và nước ngoài thiếu tin tưởng vào Trọng tài Việt Nam nói riêng cũng như pháp luật trọng tài Việt Nam nói chung. Cơ chế trọng tài vốn được xây dựng dựa trên cơ sở tiếp thu một cách có chọn lọc các nguyên tắc trọng tài quốc tế. Do đó, DN VN sẽ tiếp tục gặp khó khăn và chịu nhiều thua thiệt khi tham gia giải quyết tranh chấp tại các tổ chức trọng tài quốc tế.

Vì sao DN ngại trọng tài ?

Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài đã trở thành một hình thức rất phổ biến trên thế giới bởi những ưu thế như nhanh gọn, bí mật. Tuy nhiên, tình trạng hủy phán quyết trọng tài một cách tràn lan tại VN đang khiến nhiều  DN e ngại.

VN hiện có 7 Trung tâm trọng tài, trong đó lớn nhất là Trung tâm trọng tài quốc tế VN (VIAC). VN là thành viên Công ước New York 1958 về công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài, trở thành thành viên của Tòa án trọng tài thường trực (PCA)… Tuy nhiên, hiện nay số vụ việc mà các trung tâm trọng tài giải quyết chỉ chiếm chưa đến 1% so với tòa án.

Mặc dù Luật TTTM được ban hành năm 2010, trong đó có một mục đích là hạn chế việc hủy phán quyết trọng tài. Tuy nhiên, theo thống kê của Bộ Tư pháp, trong giai đoạn 2003 – 2010, số vụ tranh chấp có đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài chiếm 12% (trong số đó 34% bị hủy). Từ khi Luật TTTM có hiệu lực từ 01/1/2011 đến nay, có tới 36% số phán quyết trọng tài bị hủy. Đáng lưu ý hơn, nhiều vụ tuyên hủy phán quyết trọng tài của tòa án vi phạm nghiêm trọng Luật TTTM. Đặc biệt, thực tế, rất nhiều vụ việc tòa án đi sâu vào nội dung của các phán quyết trọng tài. Mặc dù, Luật TTTM chỉ cho phép tòa án tuyên hủy phán quyết trọng tài vì vi phạm về mặt thủ tục tố tụng.

Theo Thứ trưởng Bộ Tư pháp Lê Hồng Sơn, việc tòa án tuyên hủy quyết định của trọng tài trong nước; quyết định trọng tài nước ngoài chưa được công nhận cho thi hành đầy đủ tại VN có thể là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm sức hấp dẫn, uy tín, hiệu quả của hoạt động trọng tài. Nếu nói rộng hơn thì môi trường đầu tư kinh doanh của VN cũng kém hấp dẫn.

 Bá Tú

  • Không có chuyên mục